(CNSH)-Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sinh viên NCKH tại Khoa CNSH-MT

NCKH

(Cập nhật ngày: 5/1/2017)

Trường Đại học Phương Đông là một trong những trường ĐH có uý tín và chất lượng đào tạo hàng đầu trong hệ thống các trường ngoài công lập tại Việt Nam. Trong 20 năm xây dựng và phát triển, trường đào tạo ra nhiều kỹ sư, cử nhân có trình độ chuyên môn tốt đáp ứng được yêu cầu xã hội. Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, sinh viên tốt nghiệp ra trường có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, trong những năm gần đây hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trong sinh viên được nhà trường chú trọng. Sinh viên trường Đại học Phương Đông đã đạt được những thành tích đáng kể trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học, để đạt được những thành tích đó, là nhờ sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm các khoa . Tuy nhiên số lượng đề tài nghiên cứu và nhất là chất lượng của các công trình khoa học của sinh viên còn nhiều hạn chế. Trong bài viết này tác giả xin được trình bày thực trạng NCKH trong sinh viên ở trường đại học Phương Đông nói chung, của khoa Công nghệ Sinh học và Môi trường (CNSH & MT) nói riêng. Tiếp theo tác giả xin đề xuất một số giải pháp đề để thu hút sinh viên tham gia NCKH, từ đó tác giả hy vọng rằng, số lượng sinh viên tham gia NCKH nhiều hơn và chất lượng của đề tài tốt hơn.

I. Thực trạng nghiên cứu khoa học trong sinh viên tại Khoa CNSH & MT - trường ĐH Phương Đông

Nhằm khuyến khích khả năng tự học, tự nghiên cứu khoa học trong sinh viên, Nhà trường đã đưa hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên vào kế hoạch giảng dạy và học tập hàng năm. Các phòng ban chức năng, các khoa đã có nhiều hành động nhằm thu hút (đông đảo) sinh viên đến với nghiên cứu khoa học, khơi dậy trong lực lượng trí thức trẻ tuổi hùng hậu này sự đam mê tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những công trình khoa học mới có giá trị. Đáp lại sự quan tâm của nhà trường, ngày càng có nhiều sinh viên tham gia NCKH, số lượng và chất lượng các công trình cũng được cải thiện. Đã có những công trình khoa học của sinh viên giành được giải thưởng có giá trị, một số đề tài được đánh giá có tính thực tiễn cao (sinh viên Khoa CNSH – MT có 16 giải thưởng sinh viên NCKH cấp bộ, điển hình là sinh viên Trương Ngọc Tú, sinh viên lớp 931 đạt giải nhất sinh viên NCKH năm 2006; sinh viên Lê Thuỳ Quyên lớp 503301 giải nhất sinh viên NCKH năm 2007,  giải thưởng Vifotech, giải thưởng Wipo...). Tuy nhiên nhìn chung hoạt động NCKH trong sinh viên hiện nay không chỉ ở riêng ĐH Phương Đông, mà hầu hết các trường đại học tại Việt Nam chưa đáp ứng được các yêu cầu đề ra.

Trong những năm gần đây, Sinh viên Khoa CNSH & MT tham gia NCKH với số lượng các đề tài không nhiều (khoảng 04 đến 05 đề tài). Nhận xét một cách khách quan, số lượng sinh viên quan tâm đến NCKH còn quá ít; các đề tài nghiên cứu thường có chất lượng không cao, không áp dụng được trong thực tiễn. Việc NCKH trong sinh viên đang được xem như là một hoạt động phong trào. Chưa thực sự thu hút được các bạn sinh viên, chưa có nhiều sinh viên thực sự say mê với hoạt động NCKH – vốn được coi là một trong những hoạt động chủ chốt của đào tạo đại học. Nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng không mấy sáng sủa này?


Một trong những nguyên nhân chủ chốt của sự yếu kém trong sinh viên NCKH đã được chỉ ra, đó là việc thiếu môi trường nghiên cứu khoa học. Với chương trình đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay, sinh viên phải miệt mài lên lớp nghe giảng (chép bài), ôn bài, làm bài kiểm tra, tiểu luận, bài thi, khóa luận… Với cách đánh giá chủ yếu dựa vào kết quả thi kết thúc môn học, đương nhiên họ phải giành toàn lực cho các môn học để có được kết quả học tập tốt. Sinh viên chủ yếu thụ động trong việc học và nghiên cứu, không có sự sáng tạo.

Một nguyên nhân nữa là chưa có nhiều kết nối giữa môi trường nghiên cứu với các doanh nghiệp. Chưa có sự liên hệ chặt chẽ giữa các nhà nghiên sinh viên với các doanh nghiệp cần ứng dụng khoa học. Điều này không những làm cho công trình khoa học của sinh viên không đến được với ứng dụng mà còn mất đi một nguồn đầu tư lớn cho NCKH.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, nhà trường chưa có phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu cơ bản của sinh viên, điều này cũng hạn chế rất nhiều đến khả năng nghiên cứu của sinh viên. Một khi các phòng thí nghiệm còn lạc hậu, các công trình khoa học của sinh viên vẫn còn có khoảng cách xa với ứng dụng thực tiễn. 

II. Một vài giải pháp thu hút sinh viên khoa CNSH & MT tham gia NCKH

Hiện nay thường từ năm học thứ 3 trở đi sinh viên mới bắt đầu tiếp cận với hoạt động nghiên cứu, nghĩa là thời gian dành cho NCKH chỉ khoảng hơn một năm, trong khi vào cuối khóa sinh viên phải bận rộn với việc thực tập và làm đồ án tốt nghiệp. Phần lớn sinh viên sau khi ra trường đều tìm việc làm và không tiếp tục theo đuổi NCKH, dẫn tới có những công trình khoa học trở nên dở dang. Vì vậy, để có những công trình khoa học có chất lượng, việc thu hút sinh viên NCKH ngay từ năm đầu là giải pháp quan trọng. Nếu ngay từ những năm đầu sinh viên được làm quen với môi trường khoa học, được trang bị kiến thức vững vàng, cộng thêm sự định hướng tốt từ các giảng viên, họ sẽ có nhiều thời gian để theo đuổi đề tài yêu thích và như thế sẽ có những công trình có chất lượng hơn.


Để khuyến khích sinh viên đến với nghiên cứu khoa học ngay từ những năm đầu ở giảng đường, theo tôi cần thực hiện những giải pháp sau đây:

Một là, cần cải tiến chương trình học. Chương trình học hiện nay còn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng đến thực hành, khối lượng những môn học không liên quan đến chuyên ngành chiếm tỷ lệ khá lớn. Ví dụ như ở ngành CNSH & MT, trong năm đầu sinh viên chỉ được học các môn đại cương, và một vài môn cơ sở. Với những kiến thức được cung cấp như vậy, cộng thêm với đầu vào của sinh viên không cao sẽ rất khó đề cập đến việc NCKH từ đầu khóa. 

Hai là, phải cải thiện trình độ ngoại ngữ của sinh viên. Ngoại ngữ là công cụ không thể thiếu cho quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, giúp sinh viên tiếp cận các nền giáo dục, khoa học tiên tiến. Qua thực tế giảng dạy sinh viên đầu khóa ngành CNSH & MT tác giả nhận thấy đa số sinh viên còn yếu ngoại ngữ. Điều này cản trở rất lớn đến việc tiếp nhận tri thức của họ. Hiện nay, ngành CNSH & MT trên thế giới rất phát triển, đạt được rất nhiều thành tựu, rất nhiều công trình có giá trị khoa học và thực tiễn được viết bằng tiếng Anh, đại đa số sinh viên không đọc và hiểu các công trình nghiên cứu này (bằng tiếng Anh), do đó họ không thể tiếp cận những kiến thức mới, những kiến thức của thời đại để phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu.

Thứ ba, cần tạo ra môi trường nghiên cứu sáng tạo khoa học để sinh viên dễ dàng có điều kiện tham gia nghiên cứu. Mô hình Lab chuyên ngành ở các nước tiên tiến rất đáng để học hỏi. Điều này tránh cho sinh viên được tiếp cận thực tế, tránh tình trạng học chay dạy chay.

Thứ tư, có các biện pháp khuyến khích nhiều hơn nữa việc sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học. Những sinh viên có quá trình tham gia NCKH, có công trình có ý nghĩa thì có thể khuyến khích họ đăng bài trên các tạp chí khoa học. Nếu công trình của học được đánh giá tốt thì có thể xem xét sinh viên đó đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Ví dụ tại trường Đại học Hồng Bàng, sinh viên nghiên cứu khoa học dự giải ở trường đạt giải, được đặc cách tốt nghiệp, miễn báo cáo tốt nghiệp, thi tốt nghiệp cơ sở, chuyên ngành và chính trị. Hàng năm, Khoa CNSH & MT nói riêng, nhà trường cũng cần thường xuyên tổ chức các cuộc thi ý tưởng, nghiên cứu khoa học và ứng dụng của lĩnh vực CNSH & MT với kinh phí đầu tư và phần thưởng thích đáng, nếu đề tài tốt có thể đặc cách xét tốt nghiệp

Thứ năm, cần có liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có nhu cầu sản phẩm khoa học sẽ tài trợ cho đề tài nghiên cứu, sau đó họ sẽ ứng dụng đề tài đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy việc NCKH sẽ có được hai nguồn quan trọng: đầu vào là kinh phí hỗ trợ từ doanh nghiệp, đầu ra: công trình nghiên cứu đến được thực tiễn.

ThS. Trần Văn Huệ

Cựu sinh viên lớp 505303


Thông báo quan trọng

Đối tác

Liên kết website